Diển Đàn Trường THCS Đinh Tiên Hoàng

Địa Chỉ : Số 26 Tổ dân phố 1 Phường Ninh HIệp-Thị Xã Ninh Hòa-Tỉnh Khánh Hòa
 
Trang ChínhTrang Chính  Shop Thú NuôiShop Thú Nuôi  PortalPortal  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Top posters
345 Số bài - 38%
Đoàn Anh Kiệt
 
208 Số bài - 23%
Xác Sống
 
109 Số bài - 12%
f4monter_laborious
 
68 Số bài - 7%
Vinh.Nguyễn
 
65 Số bài - 7%
Nhok Cà Rốt
 
45 Số bài - 5%
Cao Thủ Học Đường
 
25 Số bài - 3%
Đại Số
 
18 Số bài - 2%
supper.man
 
14 Số bài - 2%
sakura
 
12 Số bài - 1%
oppa_leeminho_handsome
 

12 bài gửi mới nhấtNgười gửi cuối


Lịch sử của đất nước CampuchiaXem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down
Tue Oct 25, 2011 3:12 pm
avatar
[Thành viên] - Đoàn Anh Kiệt
Sáng Lập Diển Đàn Trường THCS Đinh Tiên Hoàng
Sáng Lập Diển Đàn Trường THCS Đinh Tiên Hoàng
Tổng số bài gửi : 345
Tham Gia : 14/08/2011
Tiền Xu : 14337
Tên Thật : Đoàn Anh Kiệt
Học Lớp : 9/5
Thú Nuôi :
Nam


Bài gửiTiêu đề: Lịch sử của đất nước Campuchia
Xem lý lịch thành viên http://thcsdinhtienhoang.forume.biz

Nguồn : Http://thcsdinhtienhoang.forume.biz/t289-topic

Tiêu Đề : Lịch sử của đất nước Campuchia



CÁC VƯƠNG QUỐC ĐẦU TIÊN

Người Khmer, một trong những dân cư đầu tiên ở Đông Nam Á, và cũng là một trong những dân tộc đầu tiên ở Đông Nam Á chấp nhận những tư tưởng tôn giáo và các thể chế chính trị từ Ấn Độ và lập lên những vương quốc tập trung bao gồm những vùng lãnh thổ lớn. Vương quốc sớm nhất ở thời kỳ này được biết đến hiện nay là Phù Nam, lớn mạnh từ khoảng đầu thế kỷ thứ 6. Tiếp sau là vương quốc Chân Lạp, kiểm soát những vùng rộng lớn của Campuchia, Việt Nam, Lào và Thái Lan ngày nay. Tuy nhiên, Đế quốc Khmer - thời đại hoàng kim của nền văn minh Khmer - là giai đoạn từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ 13, khi vương quốc Kambuja, khởi nguồn cho cái tên Kampuchea, hay Campuchia hiện nay, cai quản những vùng đất đai rộng lớn từ thủ đô của nó tại vùng Angkor phía tây Campuchia.

Ở thời Jayavarman VII (1181- khoảng 1218), Kambuja đạt đến tột đỉnh quyền lực chính trị và sáng tạo văn hoá. Jayavarman VII có được quyền lực và đất đai sau nhiều trận chiến thắng lợi trước những kẻ thù ở xung quanh: Champa và Việt Nam. Sau khi Jayavarman VII chết, Kambuja dần suy sụp. Các nhân tố quan trọng góp phần vào đó là sự hiếu chiến của các dân tộc lân bang (đặc biệt là Xiêm, hay Thái Lan ngày nay), các xung đột thường xuyên trong triều, và sự hư hỏng của hệ thống tưới tiêu phức tạp đảm bảo mùa màng. Triều đình Angkor tồn tại tới năm 1431, khi người Thái chiếm Angkor Thom và nhà vua Campuchia phải chạy trốn tới miền nam đất nước.

Vương quốc Phù Nam

Vương quốc Phù Nam là một quốc gia được cho là tồn tại ở khu vực miền đông Nam bộ Việt Nam do hiện nay gần như không có nhiều tài liệu lịch sử đánh dấu sự hiện diện của nó.




Theo thư tịch cổ của Trung Quốc như Tam Quốc Chí (không phải truyện Tam Quốc Diễn Nghĩa của tác giả La Quán Trung) thì Phù Nam là một quốc gia bao la, trải dài từ Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia và nam Việt Nam ngày nay.

Theo các chứng tích còn sót lại trên lãnh thổ Việt Nam thì nền văn minh Phù Nam là cùng thời với nền văn hóa Óc Eo (trên khu vực tứ giác Long Xuyên). Các chứng tích khác hiện đã phát hiện được nằm rải rác từ Cát Tiên (Lâm Đồng) tới Tây Ninh, Sài Gòn, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang và Cà Mau.

Các nhà khảo cổ học và sử học cho rằng quốc gia này tồn tại từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 9 và bị thôn tính, chia rẽ bởi các quốc gia xung quanh mới nổi lên như Chân Lạp, Chăm pa từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 9 (theo thư tịch cổ Trung Quốc như Trần Đường thư) cũng như do sự lục đục, chia rẽ nội bộ gây nên. Nếu đúng như vậy thì vương quốc Phù Nam có lẽ là một tiểu vương quốc theo Bà la môn giáo nằm trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay và là chư hầu của một đế chế rộng lớn như kiểu nhà Chu với các nước chư hầu ở Trung Quốc.

Văn hóa

Cư dân Phù Nam sản xuất nông nghiệp, kết hợp với làm nghề thủ công,đánh cá và buôn bán. Ngoại thương đường biển rất phát triển.

Tập quán phổ biến của cư dân Phù Nam là ở nhà sàn. Phật giáo và đạo Hindu được sùng tín. Nghệ thuật ca, múa nhạc phát triển. Xã hội đã có sự phân hóa giàu nghèo thành các tầng lớp quý tộc, bình dân và nô lệ.

Chân Lạp


Chân Lạp (真臘) là tên gọi Hán-Việt của một vương quốc cổ ở bán đảo Đông Dương, thành lập (khoảng thế kỉ VI) cho đến hết thời kì Ăng-co. Vào khoảng năm 550, Chân Lạp là thuộc quốc của vương quốc Phù Nam. Chân Lạp gồm hai nước Thượng Chân Lạp ở phía Bắc và Thủy Chân Lạp ở phía Nam. Thượng Chân Lạp có trung tâm là tỉnh Chăm-pa-sắc ngày nay của Lào và Thủy Chân Lạp có đồng bằng sông Cửu Long. Vào năm 715, nhiều nước nhỏ hơn tách ra từ hai nước này đã làm Chân Lạp ngày càng suy yếu.

ĐẾ QUỐC KHMER


Đế quốc Khmer là một cựu đế quốc rộng lớn nhất Đông Nam Á (với diện tích lên đến 1 triệu km2, gấp 3 lần Việt Nam hiện nay) đóng trên phần lãnh thổ hiện nay thuộc Campuchia. Đế quốc Khmer, tách ra từ Vương quốc Chân Lạp, đã từng cai trị và có phần đất phiên thuộc mà ngày nay thuộc lãnh thổ của các quốc gia: Lào, Thái Lan và Việt Nam



Trong quá trình tạo lập nên đế chế này, người Khmer đã có các mối quan hệ thương mại với đế quốc Java và sau đó với đế quốc Srivijaya giáp biên giới đế quốc Khmer về phía nam. Di sản lớn nhất của Đế quốc Khmer là Angkor - kinh đô của Đế quốc này vào thời cực thịnh của nó. Angkor là chứng tích của sức mạnh và sự thịnh vượng của Đế quốc Khmer và cũng là hiện thân của nhiều tín ngưỡng mà nó đã mang trong trong mình. Các tôn giáo chính thức của đế chế này là: Ấn Độ giáo, Phật giáo Đại thừa cho đến khi Phật giáo Nam truyền chiếm ưu thế sau khi được du nhập từ Sri Lanka vào thế kỷ 13.

Lịch sử của Angkor với vai trò là trung tâm của đế quốc Khmer lịch sử cũng là lịch sử Khmer từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 15. Từ đế quốc Khmer và cũng từ khu vực Angkor - không có một ghi chép bằng văn bản nào còn sót lại đến ngày này mà chỉ có những văn bản được khắc chạm trên đá. Do đó những gì còn được biết đến ngày nay về nền văn minh Khmer lịch sử được chủ yếu tham khảo từ các nguồn:

* Khai quật khảo cổ, phục dựng lại và điều tra.

* Các bản chạm khắc trên bia và trên đá ở các đền ghi chép lại những chiến công chính trị và tôn giáo của các triều hoàng đế.

* Các bức phù điều trên các bức tường của các đền đài miêu tả các cuộc hành quân, cuộc sống ở trong cung, các cảnh chợ búa và các cảnh sinh hoạt thường ngày của dân chúng.

* Các ghi chép còn lưu lại được của các sứ thần, nhà buôn và những người lũ hành Trung Hoa xưa.

Sự khởi đầu của kỷ nguyên Vương quốc Khmer Angkor được cho là bắt đầu từ năm 802 sau Công nguyên. Trong năm này, vua Jayavarman II đã tự xưng "Chakravartin" (hoàng đế của thiên hạ).


Jayavarman II - người sáng lập Angkor



Jayavarman II là một hoàng tử của triều đại Sailendran ở Java như là một con tin hoàng gia của vương quốc chư hầu của Java hay là đến để học tập (hoặc cả hai) vẫn chưa được khẳng định. Nhờ thời gian ở Java, ông đã mang nghệ thuật và văn hóa của triều đình Sailendran của Java về cho triều đình Khmer. Sau khi trở về nhà ở vương quốc Chân Lạp, ông đã nhanh chóng xây dựng thế lực của mình, đánh bại nhiều vị vua khác và năm 790 trở thành hoàng đế của vương quốc Khmer. Trong những năm tiếp theo, ông đã mở rộng lãnh thổ của mình và cuối cùng đã thành lập kinh đô mới Hariharalaya gần thị xã Roluos của của Campuchia ngày nay. Do vậy, ông đã đặt nền móng cho kinh đô Angkor trải dài đến 15 km về phía tây bắc. Năm 802, ông tự xưng Chakravartin (vua thiên hạ) bằng một lễ đăng quang theo phong cách Ấn Độ giáo. Bởi thế, ông không những trở thành một vị vua được thần thánh sắc phong và vô địch mà còn đồng thời tuyên bố sự độc lập của vương quốc mình khỏi vương quốc Java. Jayavarman II mất năm 834.

Yasodharapura - thành phố đầu tiên của Angkor

Các vị vua kế nhiệm Jayavarman II đã liên tục mở rộng lãnh thổ vương quốc Khmer. Indravarman I (trị vì từ 877 - 889) đã thành công trong việc mở rộng vương quốc của mình mà không cần chiến tranh và ông đã triển khai các dự án xây dựng lớn nhờ vào của cải giành được thông qua mậu dịch và nông nghiệp. Công trình đầu tiên là đền Preah Ko và các công trình thủy lợi. Con ông là Yasovarman I (trị vì từ 889 - 915), là người thiết lập một kinh đô mới Yasodharapura - thành phố đầu tiên của Angkor.

Ngôi đền trung tâm của thành phố được xây ở Phnom Bakheng, một ngọn đồi cao 60 m giữa đồng bằng trong khu vực Angkor. Dưới triều Yasovarman I công trình Đông Baray cũng được tạo dựng, đây là công trình hồ chứa nước có kích thước 7,5 x 1,8 km.

Vào đầu thế kỷ 10 thì đế quốc này bị chia rẽ. Jayavarman IV thiết lập một kinh đô mới ở Koh Ker, cách Angkor 100 km. Chỉ có dưới triều đại của Rajendravarman II (trị vì 944 - 968) thì hoàng cung mới được quay trở lại Yasodharapura. Ông ta bắt đầu bắt đầu các dự án xây dựng lớn mà các vua đầu tiên đã dự tính và đã cho thiết lập một loạt các đền ở khu vực Angkor; trong đó có Đông Mebon, trên một cù lao của Đông Baray, và nhiều đền thờ Phật và chùa. Năm 950, chiến tranh lần đầu nổ ra giữa đế quốc Khmer và Vương quốc Chămpa ở phía đông (ngày nay là miền Trung Việt Nam).

Từ năm 968 đến 1001 là thời kỳ trị vì của con trai Rajendravarman II, Jayavarman V. Sau khi ông ta đã đăng quang ngôi vua sau khi đã vượt qua các hoàng thân khác, giai đoạn trị vì của ông phần lớn là thời kỳ thanh bình, đánh dấu bởi sự phát triển thịnh vượng và phát triển rực rỡ nền văn hóa. Ông cho thiết lập một kinh đô mới gần Yashodharapura, Jayenanagari. Dưới triều của vua Jayavarman V có các nhà triết học, các học giả và các nghệ sỹ. Các ngôi đền mới cũng được xây dựng, trong đó, quan trọng nhất là Banteay Srei, được xem như công trình có tính nghệ thuật và thẩm mỹ bậc nhất của Angkor và Ta Keo là ngôi đền đầu tiên của Angkor xây hoàn toàn bằng sa thạch.

Sau cái chết của Jayavarman V là một thập kỷ xung đột. Các vị vua chỉ trị vì vài năm và bị thay thế thông qua bạo lực của các vị kế nhiệm cho mãi đến thời vua Suryavarman I (trị vì 1010 - 1050) cuối cùng giành được ngôi báu. Thời kỳ trị vì của ông được đánh dấu bằng các nỗ lực đảo chính liên tục của các đối thủ hòng lật đổ bằng quân sự. Về phía tây, ông đã mở rộng vương quốc của mình đến tỉnh Lopburi của Thái Lan ngày nay, về phía nam đến eo đất Kra. Tại Angkor, việc xây dựng Tây Baray bắt đầu dưới triều Suryavarman I, một hồ chứa nước thứ 2 và rộng hơn hồ Đông Baray với kích thước 8 x 2,2 km.

Suryavarman II - Angkor Wat

Thế kỷ 11 là thời kỳ của các cuộc xung đột và tranh giành quyền lực tàn bạo để mở rộng lãnh thổ. Dưới sự cai trị của ông, ngôi đền lớn nhất của Angkor được xây dựng trong khoảng thời gian 37 năm: Angkor Wat, là nơi thời thần Vishnu. Suryavarman II xâm chiếm vương quốc Haripunjaya của dân tộc Môn đến phía tây (ngày nay là miền Trung Thái Lan) và một khu vực xa hơn về phía tây của vương quốc Pagan (Myanmar ngày nay), phía nam lấn về khu vực bán đảo Malay đến vương quốc Grahi (nay là tỉnh Nakhon Si Thammarat của Thái Lan), về phía đông lấy nhiều tỉnh của Champa, về phía bắc đến biên giới phía bắc của Lào ngày nay. Sự kết thúc của hoàng đế Suryavarman II không được rõ ràng lắm. Văn bia cuối cùng ghi nhận tên ông có liên quan đến dự tính xâm lược Đại Việt là từ năm 1145. Có lẽ ông qua đời trong một cuộc hành quân trong khoảng thời gian từ năm 1145 đến 1150.

Thời kỳ tiếp theo các vua trị vì trong thời gian ngắn và bị vị vua sau lật đổ bằng vũ lực. Cuối cùng, năm 1177, Khmer đã bị quân Chămpa đánh bại trong một trận thủy chiến trên hồ Tonlé Sap và bị sáp nhập thành một tỉnh của Chămpa.

Jayavarman VII - Angkor Thom

Vị vua tương lai Jayavarman VII (trị vì từ 1181-1219) đã là một nhà lãnh đạo quân sự như với tước vị hoàng thân dưới thời các vua trước. Sau khi người Chăm đã xâm chiếm Angkor, ông đã tập hợp một đội quân và giành lại kinh đô Yasodharapura. Năm 1181, ông đã lên ngôi và tiếp tục gây chiến chống lại các vương quốc phía đông trong 22 năm cho đến khi Đế quốc Khmer đánh bại Chăm Pa năm 1203 và xâm chiếm phần lớn lãnh thổ của Chăm Pa.

Jayavarman VII được coi là vị hoàng đế vĩ đại cuối cùng của Angkor không chỉ vì những chiến công của ông chống lại quân Chăm Pa mà còn là một người cai trị không phải là bạo chúa như cách các hoàng đế trước đó đã cai trị vì ông là người thống nhất đế quốc này và trên cả là do các công trình xây dựng được tiến hành dưới thời kỳ cai trị của ông. Kinh đô mới có tên gọi là Angkor Thom (có nghĩa là: "Thành phố vĩ đại") được xây dựng. Ở khu trung tâm, nhà vua (một phật tử Phật giáo Đại thừa) đã cho xây dựng làm tòa tháp quốc gia - Bayon với các tháp được cho là mang hình khuôn mặt của Quán Thế Âm bồ tát, mỗi tháp cao vài mét được chạm khắc bằng đá. Các đền chùa khác được xây dựng dưới thời Jayavarman VII là Ta Prohm, Banteay Kdei và Neak Pean, cũng như hồ chứa nước Srah Srang. Cùng với những công trình đó, một hệ thống các đường phố đã được xây dựng kết nối các trấn của đế quốc. Bên các phố này, 121 nhà nghỉ được xây cho các nhà buôn, quan chức và lữ khách. Ông cũng cho thiết lập 102 bệnh xá.

Chu Đạt Quan (周达观) và thời kỳ rực rỡ cuối cùng

Sau cái chết của vua Jayavarman VII, con trai ông Indravarman II (trị vì 1219-1243) lên ngôi. Giống như cha mình, ông là một Phật tử và ông đã cho xây xong một loạt chùa chiền được khởi công từ thời cha mình. Ông không thành công về mặt chiến tranh. Năm 1220, người Khmer rút khỏi nhiều tỉnh mà trước đó đã chiếm được của Chăm-pa. Về phía tây, các thần dân người Thái của ông đã nổi lên chống lại và thành lập nên vương quốc Xiêm đầu tiên là Vương quốc Sukhothai và đẩy lùi người Khmer. Trong 200 năm tiếp theo, người Thái đã trở thành đối thủ chính của Kambuja. Jayavarman VIII (trị vì 1243-1295) kế nhiệm Indravarman II. Trái với các vua trước đó, Jayavarman VIII theo Ấn Độ giáo và là một người chống Phật giáo một cách kịch liệt. Ông đã cho phá hủy phần lớn các tượng Phật ở Đế quốc này (các nhà khảo cổ ước đoán có khoảng hơn 10.000, trong đó còn rất ít phế tích còn sót lại đến ngày nay) và cho chuyển các chùa Phật giáo thành đền thờ Ấn Độ giáo. Từ bên ngoài, Đế quốc Khmer đang bị quân Nguyên Mông của tướng Sagatu của Hốt Tất Liệt đe dọa. Ông ta đã tránh đụng độ với quân Mông Cổ (khi đó đã chiếm hết Trung Hoa) bằng cách cống nạp hàng năm cho nhà Nguyên. Triều đại của Jayavarman VIII kết thúc năm 1295 khi ông bị con rể là Srindravarman (trị vì 1295-1309) lật đổ. Vua mới là người theo Phật giáo Nam truyền (Theravada), một trường phái của Phật giáo du nhập vào Đông Nam Á từ Sri Lanka và sau đó lan ra khắp khu vực.

Tháng 8/1296, một sứ thần Trung Hoa là Chu Đạt Quan đến Angkor và ở lại triều đình của vua Srindravarman cho đến 1297. Chu Đạt Quan không phải là người đầu tiên hay người cuối cùng viếng thăm vương quốc Khmer, nhưng cuộc viếng thăm của ông trở nên nổi tiếng vì ông đã ghi chép lại cuộc sống ở Angkor một cách chi tiết. Miêu tả của ông ngày nay là nguồn tham khảo quan trọng nhất để tìm hiểu về Angkor. Ngoài các miêu tả về các đền lớn như (Bayon, Baphuon và Angkor Wat), mà nhờ Chu Đạt Quan chúng ta được biết rằng các tháp của Bayon đã từng được dát vàng, các ghi chép của ông còn đem lại nhiều thông tin có giá trị về cuộc sống thường nhật và các tập quán của cư dân Angkor.

Sự suy tàn của Angkor

Có rất ít tư liệu lịch sử về thời kỳ sau triều vua Srindravarman. Văn bản cuối cùng người ta biết được là một bia khắc từ năm 1327. Không có ngôi đền lớn nào được xây thêm. Các nhà sử học ngờ rằng có mối liên hệ giữa việc nhà vua theo Phật giáo Nam truyền (do đó không được xem là "devaraja" nữa) và việc không cần phải xây dựng các đền lớn cho devarajas hay để thờ các thần linh bảo vệ cho họ. Việc từ bỏ quan niệm devaraja cũng có thể dẫn đến sự đánh mất quyền lực của hoàng gia và do đó dẫn đến thiếu nhân công. Hệ thống thủy lợi cũng bị thoái hóa dẫn đến mùa màng thất bát do lũ lụt và hạn hán. Trong khi trước đó mỗi năm có 3 vụ lúa - điều này đã góp phần cốt yếu cho sự thịnh vượng và quyền lực của đế quốc Khmer - sự giảm sút mùa màng đã làm cho đế quốc này suy yếu thêm. Quốc gia lân bang phía tây của đế quốc này là Vương quốc Xiêm đầu tiên - Vương quốc Sukhothai, bị một vương quốc khác của người Thái (vương quốc Ayutthaya) đánh bại vào năm 1350. Sau năm 1352, người Thái đã mở nhiều cuộc tiến công vào đế quốc Khmer nhưng đều bị đánh bật. Cuối cùng, năm 1431, Ayutthaya đã chiếm được Angkor.

Trung tâm của của vương quốc Khmer còn sót lại nằm ở phía nam, ở khu vực mà ngày nay là Phnôm Pênh. Tuy nhiên, có nhiều dấu hiệu cho thấy Angkor không bị bỏ hoang. Một chi của các vua Khmer vẫn còn ở lại Angkor. Sự sụp đổ cuối cùng của Angkor vào thời ấy là sự chuyển đổi tầm quan trọng về kinh tế, và do đó là chính trị, khi Phnôm Pênh trở thành một trung tâm mậu dịch bên sông Mê Kông. Các công trình xây dựng tốn kém và các xung đột quyền lực trong nội bộ hoàng gia cũng đánh dấu chấm hết cho đế quốc Khmer. Sự hủy hoại sinh thái và hư hỏng hạ tầng cơ sở là một cách lý giải mới khác cho sự chấm dứt của đế quốc này. Dự án Đại Angkor tin rằng người Khmer đã có một hệ thống kênh rạch và hồ chứa phức tạp phục vụ cho mậu dịch, giao thông và thủy lợi. Các kênh được sử dụng để thu hoạch mùa màng và khi dân số tăng lên thì hệ thống kênh rạch bị cản trở dẫn đến thiếu nước và bị lũ lụt hoành hành. Để đáp ứng cho số dân tăng thêm, người ta đã chặt cây trên các ngọn đồi ở Kulen để lấy đất canh tác lúa. Đồi trọc làm cho kênh bị bồi lấp khi mưa to. Sự phá hủy hệ thống thủy lợi đã dẫn tới các hậu quả nghiêm trọng khác.

Có một số bằng chứng cho thấy Angkor được sử dụng lâu hơn. Dưới thời vua Barom Reachea I (trị vì 1566 - 1576), là vị vua đã tạm thời kế vị sau khi đã đẩy lùi quân Thái đã quay lại đóng đô ở Angkor trong một thời gian ngắn. Từ thế kỷ 17, đã có những văn bản khắc chạm cho thấy đã có các khu định cư của người Nhật dọc theo phần còn lại của Đế quốc Khmer. Câu chuyện nổi tiếng nhất là của Ukondafu Kazufusa, người đã ăn Tết Khmer ở đó vào năm 1632.

Các hoàng đế trị vì

Thứ tự theo niên đại cai trị, danh hiệu sau khi mất, nguồn gốc thông tin.

* 657-681: Jayavarman I
* 802-850: Jayavarman II (Paramesvara)
* 854-877: Jayavarman III (Vishnuloka)
* 877-889: Indravarman II (Isvaraloka)
* 889-910:Yasovarman I (Paramasiva-loca)
* 910-923: Hashavarman I (Rudraloka)
* 923-928: Isanavarman II (Paramarudraloka)
* 928-941: Jayavarman IV (Paramasivapada)
* 941-944: Harshavarman II (Vrahmaloka or Brahmaloka)
* 944-968: Rajendravarman (Sivaloka)
* 968-1001: Jayavarman V (Paramasivaloka)
* 1001-1002?: Udayadityavarman I
* 1002-1011?: Jayaviravarman
* 1001-1050: Suryavarman I (Narvanapala la)
* 1050-1066: Udayadityavarman II
* 1066-1080?: Harshavarman III (Sadasivapada)
* 1080-1113?: Jayavarman VI (Paramakaivalyapada)
* 1113-1150: Suryavarman II (Paramavishnuloka)
* 1150-1160: Dharanindravarman II (Paramanishkalapada)
* 1160-1165/6: Yasovarman II
* 1181-1220?: Jayavarman VII (Mahaparamasangata)
* 1220-1243: Indravarman II
* 1243-1295: Jayavarman VIII (abdicated) (Paramesvarapada)
* 1295-1308: Indravarman III?
* 1300-1307?: Srindravarman (abdicated)
* 1308-1327: Indrajayavarman
* 1330-1353: Paramathakemaraja
* 1371-?: Hou-eul-na
* 1404: Samtac Pra Phaya
* 1405: Samtac Chao Phaya Phing-ya
* 1405-1409: Nippean-bat
* 1409-1416: Lampong hoặc Lampang Paramaja
* 1416-1425: Sorijovong, Sorijong or Lambang
* 1425-1429: Barom Racha, hoặc Gamkhat Ramadhapati
* 1429-1431: Thommo-Soccorach hoặc Dharmasoka
* 1432-1462: Ponhea Yat hoặc Gam Yat

NHỮNG THỜI KỲ ĐEN TỐI CAMPUCHIA

Từ thế kỷ thứ mười lăm đến thế kỷ thứ mười chín là giai đoạn suy tàn liên tục và thu hẹp đất đai. Campuchia chỉ có được một giai đoạn thịnh vượng ngắn trong thế kỷ mười sáu vì các vị vua của nó, những người đã xây dựng thủ đô ở vùng đông nam Biển Hồ dọc theo sông Mekong, mở rộng buôn bán với các vùng khác ở Châu Á. Đây là giai đoạn khi những nhà thám hiểm người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cùng các nhà truyền giáo lần đầu tiên tới nước này. Nhưng cuộc chinh phục thủ đô mới của họ ở Lovek của người Thái năm 1594 đã đánh dấu sự suy sụp nguyên khí quốc gia và Campuchia trở thành một con tốt trong những cuộc đấu tranh giành ảnh hưởng giữa hai nước láng giềng hùng mạnh hơn của nó là Xiêm La và Việt Nam. Sự định cư của người dân Việt Nam ở châu thổ sông Cửu Long dẫn tới việc họ sáp nhập vùng đó vào cuối thế kỷ mười bảy. Vì thế Campuchia mất một trong những vùng lãnh thổ trù phú nhất của họ và bị ngăn đường tiến ra biển Đông. Những sự xâm lấn đó còn tiếp diễn tới nửa đầu thế kỷ mười chín bởi vì Việt Nam kiên quyết lấn chiếm thêm đất của người Khmer và buộc những người dân sống ở đó phải chấp nhận văn hoá Việt Nam.

GIAI ĐOẠN THUỘC ĐỊA PHÁP

Năm 1863 vua Norodom ký một hiệp ước với Pháp để thành lập một chính quyền bảo hộ trên toàn vương quốc. Dần dần đất nước này rơi vào quyền cai trị thuộc địa của Pháp. Trong Thế chiến thứ hai, Nhật Bản cho phép Chính phủ Vichy của Pháp tiếp tục cai quản Campuchia và các lãnh thổ Đông Dương khác, nhưng họ cũng nuôi dưỡng chủ nghĩa quốc gia Khmer. Campuchia lại được hưởng một thời kỳ độc lập ngắn năm 1945 trước khi quân Đồng Minh tái lập quyền kiểm soát của Pháp. Vua Norodom Sihanouk, người từng được Pháp lựa chọn để kế vị vua Monivong năm 1941, nhanh chóng chiếm lấy vị trí chính trị trung tâm khi ông tìm cách trung lập hoá những người cánh tả và những đối thủ cộng hoà và cố gắng đàm phán những điều kiện có thể chấp nhận được để giành lấy độc lập từ tay người Pháp. “Cuộc thập tự chinh giành độc lập” của Sihanouk dẫn tới việc người Pháp miễn cưỡng bằng lòng trao lại chủ quyền cho ông. Một thoả thuận từng phần được đưa ra tháng 10 năm 1953. Sau đó Sihanouk tuyên bố rằng công việc đòi độc lập đã hoàn thành và thắng lợi trở về Nam Vang.




Copy đường link dưới đây gửi đến nick yahoo bạn bè!



Lịch sử của đất nước Campuchia

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Trang 1 trong tổng số 1 trang
  • • Không spam. Xem rõ nội quy chung tại Đây
  • • Thể hiện văn hóa bằng cách bấm thanks với các bài viết bạn thích.* Viết tiếng Việt có dấu, là tôn trọng người đọc.* Chia sẻ bài sưu tầm có ghi rõ nguồn, là tôn trọng người viết.* Thực hiện những điều trên, là tôn trọng chính mình.Nếu chèn smilies có vấn đề thì bấm A/a trên phải khung viết bài

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diển Đàn Trường THCS Đinh Tiên Hoàng :: ...o0o...Tập Hợp Các Câu Lạc Bộ-Nhóm...o0o... :: Câu Lạc Bộ Lịch Sử-
Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 04:31 PM
Style [F]Monster - Designed by Alone